Thông tin chung về nước Đức

Thông tin chung về nước Đức

Nước Đức có tên chính thức là Cộng hòa Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland) là một quốc gia nằm ở phía Bắc của vùng Trung Âu, trải dài từ vùng ngoài của dãy Alps băng qua các cao nguyên vùng Trung Đức tới vùng đồng bằng Bắc Đức.

Địa lý

Là một trong những quốc gia lớn nhất của Châu Âu, Đức có nhiều cảnh quan đa dạng: những ngọn núi cao sừng sững ở phía nam; vùng đồng bằng trải dài đầy cát ở phía bắc; những ngọn đồi có rừng ở phía tây đô thị hóa; và các đồng bằng của miền đông nông nghiệp. Tại trung tâm tinh thần của đất nước là thành phố Berlin tráng lệ ở phía đông-trung tâm, nơi mọc lên như phượng hoàng từ đống tro tàn của Thế chiến thứ hai và bây giờ, sau nhiều thập kỷ bị chia cắt, là thủ đô của một nước Đức thống nhất, và sông Rhine, chảy về phía bắc từ Thụy Sĩ, được tôn vinh trong nghệ thuật thị giác, văn học, văn học dân gian và bài hát. Dọc theo các cửa sông và những nhánh sông chính của nó – trong số đó có Neckar, Main, Moselle và Ruhr – là hàng trăm lâu đài thời trung cổ, nhà thờ, làng đẹp như tranh vẽ, thị trấn chợ, và các trung tâm học tập và văn hóa, bao gồm cả Heidelberg, địa điểm của một trong số các trường đại học lâu đời nhất của Châu Âu (thành lập năm 1386), và Mainz, về mặt lịch sử là một trong những trung tâm xuất bản quan trọng nhất của Châu Âu. Tất cả đều là trung tâm của nền kinh tế du lịch đang phát triển mạnh của Đức, nơi thu hút hàng triệu du khách đến đất nước này mỗi năm, được thu hút bởi vẻ đẹp tự nhiên, lịch sử, văn hóa và ẩm thực (bao gồm cả các loại rượu và bia nổi tiếng).

Nguồn gốc tên gọi

Cái tên nước Đức từ lâu đã không phải mô tả một địa điểm cụ thể mà là một chính thể lỏng lẻo, uyển chuyển của các dân tộc nói tiếng Đức vốn đã tồn tại trên phần lớn Tây Âu, phía bắc dãy Alps trong nhiều thiên niên kỷ. Mặc dù nước Đức theo nghĩa đó là một thực thể cổ xưa, quốc gia Đức ở dạng hiện tại ít nhiều chỉ ra đời vào thế kỷ 19, khi Thủ tướng Phổ Otto von Bismarck tập hợp hàng chục vương quốc nói tiếng Đức, các thành phố chính, các thành phố tự do, các giám mục, và các công quốc để thành lập Đế chế Đức vào năm 1871. Cái gọi là Đế chế thứ hai này nhanh chóng trở thành cường quốc hàng đầu của châu Âu và giành được các thuộc địa ở châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Đế chế hải ngoại đó đã bị phá bỏ sau thất bại của Đức trong Thế chiến I và sự thoái vị của Hoàng đế William II. Suy thoái kinh tế, thất nghiệp lan rộng và xung đột chính trị dẫn đến nội chiến, và sự sụp đổ của Cộng hòa Weimar tiến bộ tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của Đảng Quốc xã dưới thời Adolf Hitler. Sau khi giành được quyền lực vào năm 1933, Hitler thành lập Đệ tam Đế chế và ngay sau đó bắt tay vào một cuộc thập tự chinh tàn khốc để chinh phục châu Âu và tiêu diệt những người Do Thái, Roma (Gypsies), người đồng tính luyến ái và những người khác.

Đệ tam đế chế

Đệ tam Đế chế tan rã vào năm 1945, do bị quân đội Đồng minh của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Liên Xô, Pháp và các nước khác đánh bại. Các cường quốc chiến thắng đã chia nước Đức thành 4 vùng chiếm đóng và sau này thành 2 nước: Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) và Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức), chia cắt nhau hơn 40 năm bởi một ranh giới dài. Ở Đông Đức, ranh giới này tồn tại cho đến khi chính phủ CHDC Đức sụp đổ vào năm 1989, được đánh dấu bằng các hệ thống phòng thủ được thiết kế để ngăn chặn việc đột nhập cũng như vượt biên. 480 km vuông của “hòn đảo” Tây Berlin cũng được bao bọc tương tự từ năm 1961 đến năm 1989 bởi Bức tường Berlin chạy qua thành phố và bởi một hàng rào lưới thép được bảo vệ nghiêm ngặt ở các khu vực tiếp giáp với vùng nông thôn Đông Đức. Mặc dù Berlin là tâm điểm giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, thành phố đã suy giảm ý nghĩa quốc gia và quốc tế cho đến năm 1989–90, khi một cuộc nổi dậy hòa bình lật đổ chính phủ Đông Đức và ngay sau đó khôi phục lại thành một Berlin thống nhất, thủ đô của một nước Đức thống nhất.

Sau thế chiến thứ hai

Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đức đã rất nỗ lực để vừa tưởng niệm các nạn nhân vừa khắc phục tội ác của diệt chủng, cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ về vật chất và chính trị cho nhà nước Israel, đồng thời tích cực truy tố các tội ác thù hận và truyền bá học thuyết tân Quốc xã; vấn đề thứ hai đã trở thành một vấn đề trong những năm 1990 với sự gia tăng của các nhóm đầu trọc ở Đức chống người nhập cư và sự sẵn có của cuốn sách Mein Kampf do Hitler viết được lan truyền trên Internet. Rõ ràng, nước Đức hiện đại đang đấu tranh để cân bằng lợi ích quốc gia của mình với những lợi ích của dòng người tị nạn chính trị và kinh tế từ xa, đặc biệt là Bắc Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Á, một làn sóng đã thúc đẩy căng thẳng sắc tộc và gia tăng hàng ngũ các đảng phái chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là ở miền đông nước Đức, nơi tỷ lệ thất nghiệp cao gấp đôi so với miền tây. Căng thẳng trở nên đặc biệt gay gắt trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, khi hơn một triệu người di cư vào Đức sau các cuộc cách mạng của Mùa xuân Ả Rập và Nội chiến Syria.

Thể chế Đức từ năm 1949

Hiến pháp của nước cộng hòa, được Tây Đức thông qua vào năm 1949, đã tạo ra một hệ thống liên bang trao quyền lực chính phủ đáng kể cho các Bang cấu thành của nó. Trước khi thống nhất, có 11 bang Tây Đức (bao gồm cả Tây Berlin, có quy chế đặc biệt của một vùng đất không có quyền biểu quyết), nhưng, với sự gia nhập của Đông Đức, hiện có 16 bang trong nước cộng hòa thống nhất. Bang lớn nhất là Bavaria (Bayern), giàu nhất là Baden-Württemberg, và đông dân nhất là North Rhine-Westphalia (Nordrhein-Westfalen).

Các vấn đề có tầm quan trọng quốc gia, chẳng hạn như quốc phòng và đối ngoại, được dành cho chính phủ liên bang. Ở cả cấp tiểu bang và liên bang, dân chủ nghị viện chiếm ưu thế. Cộng hòa Liên bang là thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) từ năm 1955 và là thành viên sáng lập của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu EU. Trong bốn thập kỷ phân chia, Cộng hòa Liên bang đã ký kết một số thỏa thuận với Liên Xô và Đông Đức, mà nước này đã hỗ trợ ở một mức độ nào đó về mặt kinh tế để đổi lại các nhượng bộ khác nhau về các vấn đề nhân đạo và quyền tiếp cận Berlin.

Nguyên do thành công sau thế chiến hai

Sự phục hồi kinh tế nhanh chóng của Tây Đức trong những năm 1950 (Wirtschaftswunder, hay “phép màu kinh tế”) đã đưa nước này lên vị trí hàng đầu trong số các cường quốc kinh tế trên thế giới, một vị trí mà nước này đã duy trì suốt từ đó đến nay.

Phần lớn thành công của nước Đức sau Thế chiến thứ hai là kết quả của sự siêng năng và hy sinh nổi tiếng của người dân nước này, điều mà tiểu thuyết gia Günter Grass, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1999, đã nhận xét: “Để trở thành một người Đức là phải biến điều không thể thành có thể. ” Ông nói thêm, một cách nghiêm túc hơn, đối với đất nước của chúng tôi, mọi thứ đều hướng tới tăng trưởng. Chúng tôi không bao giờ hài lòng. Đối với chúng tôi, đủ không bao giờ là đủ. Chúng tôi luôn muốn nhiều hơn nữa. Nếu nó là trên giấy, chúng tôi chuyển nó thành hiện thực. Ngay cả trong giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi cũng đang làm việc hiệu quả.

Sự tận tâm làm việc chăm chỉ này đã kết hợp với một phong thái lạnh lùng – vốn có lúc dè dặt và quyết đoán – tạo ra một định kiến ​​về người Đức là xa cách và lạnh lùng. Tuy nhiên, người Đức coi trọng cả tình bạn riêng tư và mối quan hệ thân thiện của họ với hàng xóm và du khách, đặt giá trị cao về giải trí và văn hóa, cũng như tận hưởng những lợi ích của cuộc sống trong một nền dân chủ tự do ngày càng trở nên hòa nhập và là trung tâm của một châu Âu thống nhất.

Bạn thấy bài viết này hữu ích không?

Có thể bạn đã bỏ qua

Free Traffic